• Đặc điểm tự nhiên
  • Lịch sử hình thành
  • Địa giới, bản đồ HC
  • Quy hoạch, phát triển
  • Du lịch, thắng cảnh
  • Thường trực
  • Ban thường vụ
  • Ban Chấp Hành
  • Văn phòng Huyện ủy
  • Ban Tổ Chức
  • Ban Dân Vận
  • Ban Tuyên Giáo
  • Uỷ ban Kiểm Tra
  • Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị
  • Thường trực
  • Đại biểu HĐND
  • Ban Pháp chế
  • Ban Kinh tế - Xã hội
  • Chức năng, nhiệm vụ
  • Lãnh đạo UBND
  • Phòng ban
  • Xã, thị trấn
  • Cơ quan ngành dọc
  • Đơn vị sự nghiệp
  • Ủy ban MT - TQ
  • Liên đoàn lao động
  • Hội cựu chiến binh
  • Đoàn thanh niên
  • Hội liên hiệp phụ nữ
  • Hội nông dân
  •  

     

     

    Nhận xét về trang thông tin?
     

    mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
    mod_vvisit_counterHôm nay785
    mod_vvisit_counterHôm qua930
    mod_vvisit_counterTuần này785
    mod_vvisit_counterTháng này24150
    mod_vvisit_counterToàn bộ1681845
    Xã Cư Kty PDF. In Email

    I. Thông tin giới thiệu về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN xã:

    1. Thông tin giới thiệu.

    Cơ quan xã Cư Kty hiện nay gồm 35 cán bộ, công chức. Trong đó có 12 cán bộ chuyên trách, 07 công chức, 16 cán bộ không chuyên trách. Có tất cả 09 tổ chức, cơ quan, đoàn thể chính trị: gồm: Đảng ủy, HĐND, UBND, CĐCS, Hội Phụ nữ, Hội Nông Dân, UBMTTQ, Hội CCB, Đoàn thanh niên.

    2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN.

    *  Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đảng ủy xã.

    Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, lãnh đạo thực hiện có hiệu quả.

    Xây dựng đảng bộ, trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.

    Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

    Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

    Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng.

    * Chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn HĐND xã.

     a. Trong lĩnh vực kinh tế.

    Quyết định quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng đất đai, phát triển ngành và quy hoạch xây dựng nông thôn trong phạm vi quản lý; lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đầu tư theo phân cách của Chính phủ;

    Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công ở địa phương và thông qua cơ chế khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển các thành phần kinh tế ở địa phương; bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế theo quy định của pháp luật;

    Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai thực hiện ngân sách địa phương; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định;

    Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng bộ phận thụ hưởng ngân sách ở địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước;

    Quyết định thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động  vốn theo quy định của pháp luật;

    Quyết định phương án quản lý, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương;

    Quyết định biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, chống buôn lậu và gian lận thương mại.

    b. Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao.

    Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục, đào tạo ở địa phương;

    Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục thể thao; biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá ở địa phương; biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục thể thao ở địa phương theo quy định của pháp luật.

    Quyết định chủ trương, biện pháp phát triển nguồn nhân lực, sử dụng lao động, giải quyết việc làm và cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, bảo hộ lao động; thực hiện phân bổ dân cư và cải thiện đới sống nhân dân ở địa phương;

    Quyết định biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh niên và nhi đồng; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá; giáo dục truyền thống đạo đức tốt đẹp, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc;  biện pháp ngăn chặn việc truyền bá văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục và phòng, chống các tệ nạn xã hội, các biểu hiện không lành mạnh trong đời sống xã hội ở địa phương;

    Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh; biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ và chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; bảo vệ, chăm sóc bà mẹ, trẻ em; thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; phòng, chống dịch bệnh và phát triển y tế địa phương;

    Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và xoá đói, giảm nghèo.

    c. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên môi trường.

    Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương.

    Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguốn lợi ở sông hồ tại địa phương theo quy định của pháp luật.

    Quyết định biện pháp bảo vệ môi trường; phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường ở địa phương theo quy định của pháp luật.

    d. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh và thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng dự bị động viên ở địa phương.

    Quyết định biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương.

    e. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo.

    Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo trước pháp luật; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.

    f. Trong lĩnh vực thi hành pháp luật.

    Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở đại phương.

    Quyết định biện pháp bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân;

    Quyết định biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước; bảo hộ tài sản của cơ quan, tổ chức và cá nhân ở địa phương;

    Quyết định biện pháp bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cùa công dân theo quy định của pháp luật.

    g. Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính.

    Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, trưởng Ban và các thành viên khác của các Ban của HĐND, Hội thẩm nhân dân của Toà án nhân dân cùng cấp; bãi nhiệm đại biểu HĐND và chấp nhận việc đại biểu HĐND xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;

    Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu;Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp huyện;

    Hoạt động giám sát của HĐND.

    Hoạt động giám sát của HĐND được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.

    Giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND và giám sát của đại biểu HĐND.

    HĐND giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

    -   Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.

    -  Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND.

    - Thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết.

    - Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

    HĐND quyết định chương trình giám sát hàng năm của mình theo đề nghị của Thường trực HĐND, đại biểu HĐND, Ban Thường trực UB Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã và kiến nghị của cử tri ở địa phương.

    Thường trực HĐND dự kiến chương trình giám sát của HĐND trình HĐND xem xét, quyết định tại kỳ họp cuối năm của năm trước và tổ chức thực hiện chương trình đó.

    Tại kỳ họp cuối năm, HĐND xem xét, thảo luận báo cáo công tác hàng năm của Thường trực HĐND, UBND. tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này gởi báo cáo công tác đến đại biểu HĐND; khi cần thiết, HĐND có thể xem xét, thảo luận.

    Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, HĐND xem xét, thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của HĐND, Thường trực HĐND, UBND.

    HĐND có thể yêu cầu Thường trực HĐND, UBND báo cáo về những vấn đề khác khi xét thấy cần thiết.

    HĐND xem xét, thảo luận báo cáo theo trình tự sau:

    - Người đứng đầu cơ quan quy định ở trên trình bày báo cáo;

    - Trưởng Ban của HĐND trình bày báo cao thẩm tra;

    - HĐND thảo luận;

    - Người đứng đầu cơ quan trình báo cáo có thể trình bày thêm những vấn đề có liên quan mà HĐND quan tâm;

    - HĐND ra nghị quyết về báo cáo công tác khi xét thấy cần thiết.

    Tại kỳ họp HĐND, việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau:

    Đại biểu HĐND ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Thường trực HĐND. Thường trực HĐND chuyển chất vấn đến người bị chất vấn và tổng hợp các chất vấn của đại biểu HĐND để báo cáo HĐND;

    Thường trực HĐND dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn và báo cáo HĐND quyết định;

    Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của HĐND được thực hiện theo trình tự sau:

    - Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ về các nội dung mà đại biểu HĐND đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;

    - Đại biểu HĐND có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời.

    Thời gian trả lời chất vấn do HĐND quyết định;

    - Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu HĐND  không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị với HĐND tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của HĐND hoặc kiến nghị HĐND xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn. HĐND ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết.

    Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp có dấu hiệu trái với hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình thì HĐND xem xét, quyết định việc bãi bỏ văn bản đó.

    - HĐND ra nghị quyết về việc văn bản quy phạm pháp luật không trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

    Khi thực hiện nhiệm vụ giám sát do HĐND giao, Đoàn giám sát có trách nhiệm:

    - Thông báo nội dung, kế hoạch giám sát cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là bảy ngày trước ngày bắt đầu tiến hành hoạt động giám sát;

    - Mời đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan tham gia giám sát; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này;

    - Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu sự giám sát;

    - Trong trường hợp cần thiết; Đoàn giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị vi phạm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu, kiến nghị qua hoạt động giám sát của mình.

    Căn cứ vào kết qủa giám sát, HĐND có các quyền sau đây:

    - Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp;

    - Ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;

    - Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của UBND theo quy định của pháp luật;

    HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu theo trình tự sau:

    - Thường trực HĐND trình HĐND về việc bỏ phiếu tín nhiệm;

    - Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quyền trình bày ý kiến của mình trước HĐND;

    - HĐND thảo luận và bỏ phiếu tín nhiệm.

    Trong trường hợp không được quá nửa tổng số đại biểu HĐND tín nhiệm thì cơ quan hoặc người đã được giới thiệu để bầu người đó có trách nhiệm trình HĐND xem xét, quyết định miễn nhiệm, bãi nhiệm người không được HĐND tín nhiệm.

    Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND:

    Thường trực HĐND có quyền giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND; giám sát cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiếp pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và các nghị quyết của HĐND cùng cấp.

    Thường trực HĐND quyết định chương trình giám sát hàng quý, hàng năm của mình căn cứ vào chương trình giám sát của HĐND và ý kiến của các thành viên Thường trực HĐND, đề nghị của các Ban của HĐND, đại biểu HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri ở địa phương.

    Căn cứ vào chương trình giám sát của mình hoặc theo yêu cầu của HĐND, các đại biểu HĐND, Thường trực HĐND quyết định thành lập Đoàn giám sát.

    Quyết định của Thường trực HĐND về việc thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

    Nội dung kế hoạch giám sát của Đoàn giám sát được thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát chậm nhất là bảy ngày, trước ngày Đoàn bắt đầu tiến hành họat động giám sát.

    Đoàn giám sát có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    - Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát trong nghị quyết về việc thành lập Đoàn giám sát;

    - Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà Đoàn giám sát thấy quan tâm;

    - Xem xét, xác minh những vấn đề mà Đoàn giám sát thấy cần thiết;

    - Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm và khôi phục lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật;

    - Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát phải có báo cáo kết quả giám sát gửi Thường trực HĐND xem xét, quyết định.

    Thường trực HĐND có trách nhiệm báo cáo HĐND về hoạt động giám sát của mình giữa hai kỳ họp.

    Thường trực HĐND giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo; tổ chức Đoàn giám sát hoặc giao cho các Ban của HĐND giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa phương.

    Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Thường trực HĐND yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm, đồng thời yêu cầu người có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu không đồng ý với việc giải quyết của người đó thì yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Thường trực HĐND và phải báo cáo với Thường trực HĐND trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định giải quyết.

    Thường trực HĐND trình HĐND xem xét các văn bản pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp trong trường hợp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp.

    Thường trực HĐND trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND yêu cầu.

    Thường trực HĐND có trách nhiệm tiếp nhận kiến nghị, chất vấn của đại biểu HĐND để chuyển đến người bị chất vấn; thông báo cho người bị chất vấn thời hạn và hình thức trả lời chất vấn.

    Thường trực HĐND điều hoà, phối hợp hoạt động giám sát của các Ban HĐND và đại biểu HĐND; tổng hợp kết quả giám sát, trình HĐND xem xét, quyết định xử lý theo thẩm quyền.

    3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn UBND xã:

    a.Trong lĩnh vực kinh tế, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây.

    a.1. Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch đó;

    a.2. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân xã quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;

    a.3. Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã và báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

    a.4. Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy định của pháp luật;

    a.5. Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện. Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.

    b. Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu thủ công nghiệp, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây.

    b.1. Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây trồng và vật nuôi;

    b.2. Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ, bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương;

    b.3. Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật;

    4. Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành, nghề truyền thống ở địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát triển các ngành, nghề mới.

    c. Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây.

    c.1. Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo phân cấp;

    c.2. Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng và xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;

    c.3. Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp luật;

    c.4. Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao thông, cầu, cống trong xã theo quy định của pháp luật.

    d.1. Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương; phối hợp với trường học huy động trẻ em vào lớp một đúng độ tuổi; tổ chức thực hiện các lớp bổ túc văn hoá, thực hiện xoá mù chữ cho những người trong độ tuổi;

    d.2. Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường mầm non ở địa phương; phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp trên quản lý trường tiểu học, trường trung học cơ sở trên địa bàn;

    d.3. Tổ chức thực hiện các chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình được giao; vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh; phòng, chống các dịch bệnh;

    d.4. Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao.

    d.5. Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia đình có công với nước theo quy định của pháp luật;

    d.6. Tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vận động nhân dân giúp đỡ các gia đình khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; tổ chức các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng chính sách ở địa phương theo quy định của pháp luật;

    đ. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành pháp luật ở địa phương, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây.

    đ.1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;

    đ.2. Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng ký, quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;

    đ.3. Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa phương;

    đ.4. Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người nước ngoài ở địa phương.

    h. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật.

    e. Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    e.1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;

     e.2. Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo thẩm quyền;

    e.3. Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

    II. Sơ đồ cơ cấu tổ chức:

    - Cơ cấu tổ chức.

    III. Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển:

    - Xã Cư Kty được thành lập ngày 22 tháng 11 năm 1976.

    - Nhân dân xã Cư Kty đại đa số là nhân dân huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) trước đây, theo chủ trương của Đảng đi Xây dựng vùng kinh tế mới Và bà con nhân dân thôn 5,6 xã Khuê Ngọc Điền sang sinh sống tại xã Cư Kty tại phía đông của tỉnh Đăk Lăk là huyện Krông Păk. Đến tháng 5 năm 1981, địa bàn xã Cư Kty được tách về huyện Krông Bông cho đến nay.

    VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ NHÂN LỰC.

    *. Đặc điểm tự nhiên.

    - Vị trí địa lý. Cư Kty nằm về phía Bắc của Huyện ,cách trung tâm huyện 10 km theo Tỉnh lộ 9, trong khoảng tọa độ địa lý từ 1080 08/ 80// đến 1080 12/50// kinh độ đông và từ 12017/40// đến 12022/30// vĩ độ bắc.

    - Đông giáp: Xã  EaYiêng Huyện Krông Păc.

    - Bắc giáp:   Xã Dang Kang.

    - Nam giáp:  Xã  Khuê Ngọc Điền và xã Hòa Lễ.

    - Tây giáp:  Xã Hòa Tân.

    - Diện tích tự nhiên: Xã Cư Kty  có diện tích tự nhiên 3.368 ha, có đặc trưng của một xã miền núi cao nguyên.

    Trong đó:

    - Đất nông nghiệp:             2.621,94 ha.

    - Đất phi nông nghiệp:        424,94 ha.

    - Đất chưa sử dụng:           312,12 ha (số liệu kiểm kê đất đai năm 2010).

    - Đặc điểm địa hình, khí hậu:

    - Địa hình. Với địa hình đặc trưng vùng Tây nguyên, phía bắc có dãy núi Cư Rik, phía đông có dãy núi Cư Drang có độ cao từ 706-718m. Phía đông bắc là dãy đồi Cư Kty, có độ cao 658m. Địa hình có 3 bậc độ dốc chính là: dưới 3 độ, từ 3-8 độ và từ 8-15 độ, trong đó, độ dốc dưới 8 độ chiếm ưu thế (70%). Độ dốc trên 15 độ chỉ có trên các vùng sườn núi. Địa hình thấp  dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây, cắt xẻ địa hình không lớn, đạt từ 0,2-05km/km2 ở vùng núi phía bắc và phía đông, các dạng địa hình chính là địa hình núi thấp (500-1000m), thung lũng ven sông, các bàu trũng tự nhiên, hồ đập nhân tạo.

    - Khí hậu. Về khí hậu, xã Cư Kty nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, chịu ảnh hưởng địa hình có các dãy núi lớn. Thời tiết tương đối khắc nghiệt, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến tháng 12 hàng năm, mùa khô từ cuối tháng 12 đến giữa tháng 4 năm sau. Nhiệt độ bình quân là 23,70C. Nhiệt độ cao nhất trong năm là từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 5, nhiệt độ trung bình lên đến 25,4 đến 26,1 độ, thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ là 20,1 đến 21,2 độ. Biên độ nhiệt thay đổi có khi lên đến 60C. Độ ẩm không khí trung bình là khoảng 85%, cao nhất là 95% vào mùa mưa và 75% vào mùa khô. Lượng mưa trung bình từ 1800mm đến 2000mm, lượng mưa cao nhất là 2.050mm. mưa tập trung cao nhất là các tháng 10 và 11 (400-450mm). Mưa kéo dài  gây ngập úng cục bộ. Số giờ nắng trung bình 180h/tháng, nắng nhiều, bức xạ dồi dào, trung bình từ 150-160 kcal/năm.

    - Gió: Mùa khô với hướng gió Đông và Đông nam là chủ yếu, xuất hiện không thường xuyên, chiệu ảnh hưởng của các đợt áp thấp nhiệt đới, ít có lốc. Mùa mưa có gió Bắc và Đông Bắc xuất hiện từng đợt, mỗi đợt thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày, hầu như không có bão to gió lớn.

    - Thủy văn: Xã Cư Kty nằm ở phía bắc bờ sông Krông KMa, dòng sông này chảy qua xã từ Đông sang Tây, với chiều dài hơn 15km, rộng từ hàng chục mét đến gần 100m, với 14 khúc uốn quanh co đặc trưng của 1 con sông có từ lâu đời, lưu lượng nước lớn, bình quân là từ 450m3 đđến 500m3/s, lớn nhất 750m3/s, nhỏ nhất là 350m3/s. Mưa lũ bất thường có thể lên đến 900m3/s. Phía Bắc của xã có suối Ea Yang Kang dài 3.618m và các suối nhỏ theo mùa trên các vùng núi phía Bắc và Đông nam của xã. Mật độ sông suối đạt bình quân 0,55km/km2.

    Ngoài ra còn có một số Bàu trũng tự nhiên trên địa bàn như: Bàu Lát; Bàu Môn; Bàu Đua, khu vực Cư Păm, khu vực Cư Drang. 

    *Tài nguyên.

    +Tài nguyên đất đai.  Xã Cư Kty có tổng diện tích tự nhiên 3.368 ha.

    Trong đó:

    Đất nông nghiệp 2621.94 ha.

    Đất phi nông nghiệp 424.94 ha.

    Đất chưa sử dụng 312.12 ha (Số liệu kiểm kê đất đai năm 2010).

    Trên địa bàn xã CưKty có năm nhóm đất chính.

    - Nhóm đất phù sa: Gồm đất phù sa được bồi đắp của sông, suối, phù sa bị G lây, đôi chỗ bị lầy thụt và ngập úng cục bộ vào mùa mưa (chiếm khoàn 36% diện tích tự nhiên của xã) các loại đất này thích hợp phát triển cây lá nước, rau màu và các loại cây hàng năm khác.

    - Nhóm đất xám trên phù sa cổ: gồm các loại đất xám trên phù sa cổ và đất xám bạc màu trên phù sa cổ bị g lây, hình thành trên sản phẩm phân hủy của mẫu chất, sản phẩm phân hủy mang về từ các loại đất mùn trên núi cao, các trầm tích xói mòn lâu đời (diện tích 453 ha, chím 16,6% diện tích tự nhiên). Các loại đất này phù sa khá phù hợp cho phát triển cây lúa, cây hàng năm, hoa màu và cây công nghiệp, song cần phải có biện pháp đầu tư, cải tạo đất.

    - Nhóm đất đỏ vàng trên đá bazan phiến sét: Bao gồm các loại đất đỏ và, đất nâu vàng được hình thành lâu đời trên các loại đá gốc, chủ yếu là đá phiến sét (chiếm khoảng 34% diện tích đất tự nhiên). Các loại đất này phù hợp ch phát triển rừng tự nhiên, rừng trồng, cây cộng nghiệp lâu năm.

    - Nhóm đất dốc tụt: hình thành qua quá trình rửa trôi xói mòn, có thành phần dinh dưỡng kém, tầng đất không dày có, rất khó khăn cho việc canh tác nông nghiệp (chiếm 5 % diện tích tự nhiên).

    - Nhóm đất sông suối: Gồm mặt nước sông, suối tự nhiên có nước liên tục hoạc theo mùa chiếm khoản 3% diện tích tự nhiên).

    + Tài nguyên nước.

    - Nguồn nước mặt: với nguồn nước do sông suối tự nhiên mang lại, cùng các hồ đập thủy lợi có chất lượng rất tốt, là nguồn cung cấp nước cho canh tác Nông lâm nghiệp. Tuy nhiên do mùa mưa và mùa khô rất phân biệt trên từng tiểu vùng, cho nên thủy lợi vẩn là công tác đảm bảo cho việc tưới tiêu đồng ruộng.

    - Nguồn nước ngầm: Được hình thành qua quá trình kiến tạo thuộc phức hệ chứa nước cổ hổng, phân bố chủ yếu dọc theo các thung lũng, sông suối ở độ sâu trung bình từ 10- 20m. Chủ yếu là nước nhạt, môi trường trung tính, không độc hại, lưu lượng không lớn là nguồn cung cấp chính cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong xã.

    + Tài nguyên rừng.

    Trên địa bàn xã Cư Kty có 111ha rừng trồng, có nhiều loại gỗ tốt, do quá khứ chiến tranh tàn phá, quá trình khai thác làm nương rãy của nhân dân nên diện tích rừng giảm đáng kể so với trước đây. Hiện nay công tác trồng rừng, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng luôn được Đảng, chính quyền và nhân dân trong xã quan tâm.

    + Tài nguyên khoáng sản.

    Chưa được khảo đánh giá, hiện nay chỉ có các loại đá phiến sét, đá Granit, đất giàu sét - cao lanh có độ kết lớn, tài nguyên cát ở lòng sông  hiện đang đươc khai thác phục vụ cho xây dựng.

    *  Nhân lực.

    + Dân số: dân số toàn xã hiện nay có 5152 người, 1021 hộ. Trong đó dân tộc tiểu số là 8 hộ 45 người chiếm 0,87%. Cơ cấu thành phần 8 thôn.

    + Lao động.

    - Dân số trong độ tuổi lao động của xã năm 2009 khoản 3.390 người chiếm 64,55% dân số.

    - Tổng số lao động bố trí việc làm trong các ngành kinh tế là 3.250 người, chiếm 95,87 số lao động trong độ tuổi.

    Trong đó:

    Lao động thuộc khu vực I (nông lâm ngư sản) 2.935 người chiếm khoản 86,56% số lao động làm việc trong các ngành kinh tế.

    Lao động thuộc khu vực II (công nghiệp, tiểu thủ cộng nghiệp, xây dựng) 205 người, chiếm 6,04% lao động làm việc trong các ngành kinh tế.

    Lao động thuộc khu vực III (dịch vụ thương mại, HCSN) 250 người, chiếm 7,37% số lao động làm việc trong các ngành kinh tế.

    - Số lao động tàn tật, mất sức, nội trú trong độ tuổi lao động khoản 140 người, chiếm 4,13%.

    * Đanh giá chung về tiềm năng của xã.

    Về điều kiện tự nhiên.

    - Mạng lưới sông suối phân bố tương đối thuận lợi, địa hình thuân lợi cho việc xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ tưới nước cho sản xuất nông nghiệp.

    -  Nhìn chung điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai rộng, tập trung nên thuận tiện cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, đặc biệt đất đại có điều kiện để phát triển trồng ngô, lúa, mía, phát triển chăn nuội gia súc, gia cầm…

    + Về kinh tế xã hội.

    - Thu nhập của nhân dân trong xã chủ yếu dựa vào nông nghiệp có những điều kiện thuận lợi, lợi thế của xã là đất đai rộng cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tích cực. Trong nông nghiệp trồng trọt đang giữ thế mạnh, ngành chăn nuội đang từng bước phát triển. Với nguồn nguyên liệu phong phú, xã có tiềm năng phát triển nguyên liệu cho các nhà máy chế biến nông sản trên địa bàn.

    - Đời sống vật chất của người dân từng bước tăng lên ,giảm dần sự cách biệt  giữa vùng trong xã, số hộ đói nghèo ngày càng giảm, sức khỏe cộng đồng  được cải thiện, trình độ dân trí, đời sống văn hóa tinh thần ngày được nâng cao chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt.

    Xã Cư Kty nằm ở phía Bắc huyện Krông Bông, cách trung tâm huyện 10 km theo đường Tỉnh lộ 9, đây là tuyến giao thông quan trọng nối giữa thị trấn Krông Kmar và huyện Krông Pắk. Với tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.650 ha, dân số chủ yếu là người dân tộc kinh từ tỉnh Quảng Nam di dân đến từ sau những năm 1975 làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng địa bàn.

    IV. Họ tên, chức vụ, điện thoại, địa chỉ thư điện tử chính thức, nhiệm vụ lãnh đạo trong đơn vị:

    Stt Hình ảnh Họ và tên Năm sinh Chức vụ Điện thoại
    01  Ông: Phạm Phú Thiên
      Bí thư Đảng ủy
    02  Ông: Huỳnh Phương Bình 1976 P.Bí thư TT 01689955468
    03  Ông: Đồng Thanh Bình 1970 Chủ tịch HĐND
    01689 44179
    04  Ông: Trần Đại Thành 1958 PCT HĐND
    01689977234
    05  Ông: Trần Văn Minh 1969

    P.Bí thư

    CT.UBND

    01689 909 379
    06  Ông: Trần Văn Cứ 1966 PCT UBND
    0932506115
    07  Ông: Nguyễn Thanh Hoa 1967 PCT UBND
    0935239282
    08    Ông: Trần Văn Vinh 1969 VP.UBND
    0986033788

     

    V.  Địa chỉ giao dịch:

    - Thôn 6 xã Cư Kty.

    - Điện thoại 0500 3736 509.

     

     

     

     

     

     

     

     

     


     

     

     

            

     

     

     

     

     


    TIN MỚI HƠN:
    TIN KHÁC:

     

    Obtener Plugin Flash para visualizar este reproductor

    Lịch công tác tuần 36, tháng 9 năm 2017