• Đặc điểm tự nhiên
  • Lịch sử hình thành
  • Địa giới, bản đồ HC
  • Quy hoạch, phát triển
  • Du lịch, thắng cảnh
  • Thường trực
  • Ban thường vụ
  • Ban Chấp Hành
  • Văn phòng Huyện ủy
  • Ban Tổ Chức
  • Ban Dân Vận
  • Ban Tuyên Giáo
  • Uỷ ban Kiểm Tra
  • Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị
  • Thường trực
  • Đại biểu HĐND
  • Ban Pháp chế
  • Ban Kinh tế - Xã hội
  • Chức năng, nhiệm vụ
  • Lãnh đạo UBND
  • Phòng ban
  • Xã, thị trấn
  • Cơ quan ngành dọc
  • Đơn vị sự nghiệp
  • Ủy ban MT - TQ
  • Liên đoàn lao động
  • Hội cựu chiến binh
  • Đoàn thanh niên
  • Hội liên hiệp phụ nữ
  • Hội nông dân
  •  

     

     

    Nhận xét về trang thông tin?
     

    mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
    mod_vvisit_counterHôm nay557
    mod_vvisit_counterHôm qua867
    mod_vvisit_counterTuần này2317
    mod_vvisit_counterTháng này22379
    mod_vvisit_counterToàn bộ1604234
    Đặc điểm tự nhiên PDF. In Email

    1.1. Điều kiện tự nhiên:

    1.1.1. Vị trí địa lý:

    Huyện Krông Bông nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đắk Lắk, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 55 km về phía Tây - Bắc, ranh giới hành chính của huyện như sau:

    - Phía Bắc giáp 3 huyện Krông Pắc, Ea Kar, M’Đrăk.

    - Phía Nam giáp huyện Lăk.

    - Phía Đông Nam giáp vùng núi hiểm trở ngăn cách giữa tỉnh Đắk Lắk với 2 tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng.

    Tổng diện tích tự nhiên (DTTN) toàn huyện là 1.257,49 km2 chiếm 6,38% DTTN toàn tỉnh, tổng dân số 90.207 người (năm 2011). Mật độ dân số là: 71,13 người/km2 (Theo số liệu thống kê 31/12/2011).

    Toàn huyện có 1 thị trấn và 13 xã gồm: Thị trấn Krông Kmar, các xã Yang Reh, Ea Trul, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền, Hòa Tân, Cư Kty, Hòa Thành, Dang Kang, Hòa Lễ, Hòa Phong, Cư Pui, Cư Đrăm, Yang Mao.

    Huyện có quốc lộ 27 đi qua, là trục giao thông huyết mạch của tỉnh Đắk Lắk với tỉnh Lâm Đồng; có tỉnh lộ 12 chạy từ Thị trấn Krông Kmar đi các xã phía Đông;  tỉnh lộ 9 nối huyện với các huyện Ea Kar, Krông Pắc… tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế - xã hội với các địa phương trong khu vực.

    1.1.2. Địa hình, địa mạo:

    Nằm ở vị trí tiếp giáp giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột với Trường Sơn Nam nên địa hình của huyện bị chia cắt rất mạnh, thấp dần theo hướng Đông - Nam xuống Tây - Bắc, về đại thể có thể chia địa hình huyện thành 3 địa hình chính: núi cao, núi thấp và thung lũng.

    Dạng địa hình núi cao: Diện tích 80.102 ha, chiếm 63,70% DTTN toàn huyện, tập trung thành vòng cung lớn bao quanh 3 phía Bắc, Đông, Nam; mức độ chia cắt mạnh: độ cao trung bình từ 1.500 - 2.500m, độ dốc phổ biến trên 2500, bao gồm một số dãy núi cao như Cư Yang Sin (độ cao 2.442m), đỉnh Cư Yang Hanh (độ cao 1.991m), đỉnh Cư Bukso (độ cao 1.538m). Nhìn chung, dạng địa hình này không thích hợp cho phát triển nông nghiệp, hiện trạng chủ yếu là rừng tự nhiên.

    Dạng địa hình núi thấp: Diện tích 23.968 ha, chiếm 19,06% DTTN toàn huyện, phân bố ở khu vực phía Bắc - Đông Bắc huyện và trải dài từ Đông sang Tây; độ cao trung bình từ 500m - 1.000m, bao gồm một số đỉnh núi như đỉnh Cư Goa (độ cao 953m), đỉnh Cư Drang (độ cao 698m), đỉnh Cư Ya Trang (độ cao 982m), độ dốc phổ biến từ 1500- 2500. Nhìn chung, dạng địa hình này thích hợp cho phát triển nông nghiệp, hiện trạng chủ yếu là rừng tự nhiên.

    Dạng địa hình thung lũng ven sông: Diện tích 21.679 ha, chiếm khoảng 17,24% DTTN toàn huyện, phân bố ven các sông lớn như sông Krông ANa, sông Krông Bông, Krông Pắc; địa hình tương đối bằng, độ cao trung bình dưới 500m, độ dốc biển dưới 800. Do hạ lưu các con sông hẹp nên nhiều khu vực bị ngập nước sau các trận mưa lớn, nhưng sau đó nước rút nhanh; thổ nhưỡng chủ yếu là phù sa và đất xám, khá thích hợp với canh tác lúa và các cây công nghiệp ngắn ngày.

    1.1.3. Khí hậu:

    Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng do vừa bị ảnh hưởng của độ cao, vừa bị ảnh hưởng của các dãy núi lớn Cư Yang Sin nên khí hậu Krông Bông có hai mùa mưa nắng rõ rệt với những đặc trưng chính sau:

    - Nắng nhiều: trung bình 180 giờ/tháng. Năng lượng bức xạ tổng cộng lớn: trung bình từ 150 - 160 kcal/cm2 năm. Nhiệt độ cao và ôn hòa: nhiệt độ trung bình năm từ 23,7 - 27,30C. Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ có thể xuống đến khoảng 17,3 - 20,10C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 và tháng 5, nhiệt độ trung bình có thể lên đến 28 - 300C. Bên cạnh đó, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm khá lớn (mùa khô biên độ nhiệt trên 100C). Nắng nhiều, bức xạ dồi dào nhiệt độ cao và hầu như không có bão là những thuận lợi rất cơ bản cho Krông Bông trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các cây công nghiệp như cà phê, thuốc lá, bông vải… .

    - Lượng mưa: Có hai tiểu vùng mưa: vùng phía Đông bao gồm xã Hòa Phong và 3 xã Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao, có mùa mưa kéo dài và kết thúc cũng muộn hơn. Lượng mưa nhiều hơn so với các xã phía Tây và phía Bắc của huyện. Nhìn chung, trên toàn huyện có lượng mưa lớn (trung bình từ 1.800 - 2.200 mm/năm), mùa mưa dài: Từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 12, khá thuận lợi với các loại cây lâu năm. Tuy nhiên, vào những năm hoặc những tiểu vùng mùa mưa kết thúc muộn thì ảnh hưởng nặng đến chất lượng thụ phấn của một số loại cây trồng (điều).

    - Do mưa rất lớn vào thời kỳ tháng 9 đến tháng 11 (từ 400 - 500 mm/tháng), trong khi hạ lưu các con sông nhỏ hẹp, thoát nước chậm, nên lượng nước đổ về một mặt gây xói mòn và rửa trôi đất ở vùng đồi núi thượng nguồn, mặt khác làm mực nước sông dâng nhanh và tràn vào đồng ruộng, gây tình trạng ngập lũ cục bộ ở các khu vực trũng và ven sông.

    - Mùa khô bắt đầu từ tháng 12I đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chỉ chiếm khoảng 5 -10% tổng lượng mưa năm. Tuy chỉ kéo dài 4 tháng nhưng lượng mưa ít cũng đủ gây tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về các cân ẩm, ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng - phát triển của cây trồng, vật nuôi. Việc xây dựng các công trình thủy lợi để cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt trong mùa khô có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

    1.2. Các nguồn tài nguyên:

    1.2.1. Tài nguyên đất:

    Theo số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2010, tổng diện tích tự nhiên huyện Krông Bông là 125.749,00 ha, trong đó: sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 107.726,98 ha, chiếm 85,67%; sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp là 4.368,35 ha, chiếm 3,47%; đất chưa sử dụng 13.653,67 ha chiếm 10,86% diện tích tự nhiên.

    Kết quả điều tra phân loại đất trên bản đồ toàn huyện có 4 nhòm đất chính với 15 loại đất sau:

    * Nhóm đất phù sa: Diện tích 10.890 ha, chiếm tỷ lệ 8,66% DTTN toàn huyện, phân bố tập trung ở khu vực thung lũng ven sông thuộc các xã phía Tây và phía Bắc huyện. Đất được bồi đắp phù sa hàng năm do ngập lụt nên khá phì nhiêu. Thành phần cơ giới đất từ trung bình đến nặng, tương đối giàu mùn và đạm, hàm lượng lân tổng số từ trung bình đến nghèo. Theo nguồn gốc phát sinh được chia thành 4 đơn vị chú giải bản đồ: đất phù sa được bồi hàng năm, đất phù sa có loang lổ đỏ vàng, đất phù sa glây và đất phù sa ngòi suối. Hiện nay đất phù sa đang được sử dụng vào trồng cây lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

    - Đất phù sa được bồi (Pb): Diện tích khoảng 4.854 ha, chiếm 3,86% DTTN, phân bố tập trung ven sông suối thuộc các xã Hòa Phong, Cư Kty, Hòa Thành và Hòa Tân. Đất có tầng dày lớn (>100cm), khá phì nhiêu, hơi chua, thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ, một số ngập vào mùa mưa, phân bố ven sông suối, thích hợp cho trồng lúa nước, các cây hàng năm như ngô, đậu đỗ và các cây công nghiệp ngắn ngày như bông, thuốc lá…

    - Đất phù sa glây (Pg): Diện tích 2.930 ha, chiếm tỷ lệ 2,33% DTTN, phân bố chủ yếu ở các xã  Hòa Lễ, Hòa Phong,, thuộc dạng đất cát pha, một số có đá lẫn trên 30%.

    - Đất phù sa có đất có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Diện tích 1.622 ha,  chiếm tỷ lệ 1,29% DTTN toàn huyện.

    - Đất phù sa ngòi suối (Py): Diện tích 1.484 ha, chiếm tỷ lệ 1,18% DTTN toàn huyện.

    * Nhóm đất xám: Diện tích 2.829ha, chiếm tỷ lệ 2,25% DTTN toàn huyện, thường phân bố rải rác xen kẽ với các loại đất nâu đỏ bazan, tập trung nhiều tại các xã phía Bắc huyện như Thị trấn, Cư Kty, Dang Kang. Đất có thành phần cơ giới nhẹ hàm lượng mùn, đạm, lân, kali ở mức từ nghèo đến trung bình. Theo nguồn gốc phát sinh được chia thành 2 đơn vị chú giải trên bản đồ: Đất xám trên phù sa cổ và đất xám bị glây. Hiện đang được khai thác để trồng cà phê, tiêu, điều, sắn….

    * Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích 112.042 ha, chiếm tỷ lệ đa số 89,1% DTTN toàn huyện. Phân bố khắp các xã trong huyện. Theo nguồn gốc phát sinh được chia thành 7 đơn vị chú giải trên bản đồ: Đất nâu đỏ trên đất bazan, đất nâu vàng trên đá bazan, đất đỏ vàng trên đất phiến sét, đất đỏ vàng trên đá granit, đất vàng trên phù sa cổ, đất nâu thẫm trên sản phẩm đá bọt bazan, đất mùn vàng đỏ trên đá granit.

    - Đất nâu đỏ, nâu vàng trên đát bazan (Fk, Ku): Diện tích khoảng 1.185ha, chiếm 0,95% DTTN toàn huyện. Tập trung chủ yếu ở các xã phía Tây, trên địa hình đồi thấp lượn sóng. Nhóm đất này giàu dinh dưỡng, tầng dày trên 70cm, cấu tượng viên hạt, độ xốp cao, thành phần cơ giới nặng, khả năng giữ nước tốt, thích hợp cho cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả.

    - Đất đỏ vàng trên đất phiến sét (Fs): Diện tích 30.920ha, chiếm 24,33% DTTN toàn huyện, phân bố nhiều ở các xã phía Đông Bắc như Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Tân. Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, tầng dày <30cm.

    - Đất vàng trên đá granit (Fa): Chiếm tỷ lệ lớn nhất 33,76% DTTN toàn huyện với 42.210ha. Phân bố chủ yếu ở các xã phía Đông (giáp huyện M’Đrắk), phía Đông Nam (giáp Lâm Đồng) và một số xã như Ea Trul. Đất có tầng dày <30cm, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, khả năng giữ ẩm kém, có đá lẫn. Nhóm đất này thích hợp cho phát triển cây công nghiệp.

    * Nhóm đất khác: Bao gồm các loại đất lầy thụt và đất dốc tụ, phân bố dưới các khe suối, hợp thủy. Loại đất này có độ phì khá cao, giàu mùn, khả năng giữ ẩm rất tốt, tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 0,02% DTTN với diện tích 25 ha.

    Nhìn chung, so với các huyện trong tỉnh Đắk Lắk và ở Tây Nguyên, tài nguyên đất của Krông Bông có nhiều hạn chế như: Đất đồi có độ dốc lớn, tầng đất không dày và nghèo dinh dưỡng, cùng với cường độ mưa lớn dễ làm đất bị xói mòn; Đất đồng bãi thung lũng có độ phì khá nhưng bị nguy cơ ngập lụt hàng năm. Vì vậy, trong quá trình sử dụng, cần đặc biệt coi trọng biện pháp cải tạo, bảo vệ và tăng dần độ phì nhiêu cũng như các biện pháp thủy lợi và lịch canh tác hợp lý.

    1.2.2. Tài nguyên nước:

    * Nước mặt:  Krông Bông là một trong những huyện có hệ thống nước mặt khá phong phú với mạng lưới sông suối dày đặc (mật độ 0,35- 0,55 km/km2). Có 3 sông chính: sông Krông ANa, sông Krông Bông và sông Krông Pắc, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc.

    Ngoài ra, huyện còn có mạng lưới suối nhỏ phân bố khá đều trên khắp địa bàn huyện: phía Bắc có các suối nhỏ đổ ra sông Krông Bông, phía Nam có suối đổ ra sông Krông ANa, đoạn chảy qua huyện có dòng chảy theo hướng Đông sang Tây, lưu lựng trung bình khoảng 1,1m3/s.

    Chất lượng nước mặt khá tốt, nước suối thường có độ khoáng nhỏ, độ PH trung tính, sử dụng tốt cho nông nghiệp. Cùng với đặc điểm địa hình, mạng lưới sông suối của huyện thuận lợi cho việc xây dựng một số công trình thủy lợi, thủy điện nhỏ.

    Nhìn chung, sông suối trên địa bàn huyện có tổng lưu lượng dòng chảy năm tương đối lớn nhưng phân bố không đều giữa mùa mưa và mùa khô, trong đó; mùa khô dòng chảy nhỏ, mực nước và cao trình đồng ruộng chênh lệch lớn nên ít khi có khả năng khai thác nếu không có các công trình thủy lợi; mùa mưa dòng chảy lớn, nhất là thời kỳ mưa lũ, đã gây ra tình trạng ngập nước ở các khu vực đất thấp.

    * Nước ngầm: Trên địa bàn huyện hiện chưa có tài liệu nghiên cứu, đánh giá chi tiết về nước ngầm, song dựa vào kết quả điều tra của Sở Công nghiệp Đắk Lắk và kết quả lập bản đồ Địa chất thủy văn của Liên đoàn ĐCTV - ĐCCT Miền Trung, cho thấy: Nước ngầm trên địa bàn huyện thuộc phức hệ chứa nước lỗ hổng các thành tạo bở rời đệ tứ (albQ): diện phân bố của phức hệ chứa nước này không lớn và chủ yếu dọc theo các thung lũng sông suối như sông Krông Bông, Krông ANa, Krông Pắc. Phức hệ này có khả năng cung cấp nước khá phong phú. Nước thường tồn tại trong các lỗ hổng của đất đá, trong thành tạo phun trào basalt, độ sâu phân bố 15 đến 20m, mức độ chứa nước tăng dần từ trên xuống dưới, đặc biệt là trong các lớp cát thô dưới cùng, khả năng lộ nước của phức hệ rất hạn chế, mật độ xuất lộ nhỏ, lưu lượng không lớn, loại nước chủ yếu là Bicarbonate- clorua natri, thuộc loại nước nhạt, môi trường trung tính. Một kết quả thăm dò khác cho thấy nguồn nước ngầm ở khu vực phía Bắc có trữ lượng phong phú hơn phía Nam.

    1.2.3. Tài nguyên rừng:

    Theo số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của huyện, đất lâm nghiệp có 80.390,13 ha, chiếm 63,93% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó rừng sản xuất 35.994,27 ha chiếm 44,77%  tổng diện tích đất lâm nghiệp, rừng phòng hộ 14.116,79 ha, chiếm 17,56% tổng diện tích đất lâm nghiệp, rừng đặc dụng 30.279,07 ha, chiếm 37,77% tổng diện tích đất lâm nghiệp.

    Nằm trong vùng có điều kiện khí hậu, địa hình, đất đai nhiều thuận lợi nên thảm động thực vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều chủng loài khác nhau:

    * Thảm thực vật rừng:

    Thảm thực vật rừng tại đây là kho tàng thiên nhiên quý giá và đa dạng với nhiều chủng loại cây rừng có giá trị như thông 2 lá dẹt, hoàng đản giả (thiên tùng), thông nàng, pơ mu…, vốn là những loài cây đặc hữu và quý hiếm được ghi trong sách đỏ của Việt Nam cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Về diện tích và trữ lượng rừng của huyện Krông Bông, theo kết quả kiểm kê tài nguyên rừng năm 1999 (theo chỉ thị 286/TTg của Thủ tướng Chính phủ) cho thấy như sau:

    - Rừng gỗ: Rừng nhiệt đới xanh quanh năm, phát triển trên địa hình núi cao phía Đông và Nam của huyện, ven các khe suối và hợp thủy, có nhiều tầng và nhiều loài cây quý hiếm như cẩm lai, gõ, trắc, kiền kiền… Tập trung nhiều là thảm rừng tại dãy núi cao Cư Yang Sin, Cư Yang Hanh, Cư Hoa… Đây là những nguồn tài nguyên quý giá không chỉ của tỉnh, vùng mà còn là của cả nước. Hiện rừng Cư Yang Sin đã được nâng cấp thành Vườn Quốc Gia để bảo vệ môi trường sinh thái và các loài động thực vật quý hiếm nhằm phục vụ cho nghiên cứu khoa học, du lịch và bảo tồn..

    - Rừng tre nứa, lồ ô: Đây là loại rừng với thành phần chủ yếu là các cây họ tre, nứa, le, hiện đang là đối tượng bị khai thác mạnh.

    Rừng hỗn giao tre nứa gỗ: Đây là loại rừng với thành phần chủ yếu là các cây họ tre, nứa, le và các loại cây gỗ họ dầu như dầu trà ben, diện tích khá tập trung.

    - Rừng trồng: Chủ yếu là rừng trồng cây lấy gỗ. Hiện nay toàn huyện có 80.390 ha.

    * Động vật rừng:

    Nằm trong tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước nên số lượng và chủng loại động vật cũng có nhiều vào bậc nhất. Hệ động vật của rừng khá phong phú và đa dạng, có giá trị kinh tế cũng như nghiên cứu khoa học: nhóm động vật quý hiếm (Bò rừng, hổ, báo, cầy mực, vượn đen…), nhóm động vật kinh tế (Nai, hoẵng, lợn rừng, khỉ, vượn, voọc…), nhóm động vật cung cấp nhiên liệu, da lông, làm cảnh (tê tê, rắn, bò sát…) cùng các loài chim, bò sát, ếch nhái…, trong đó có rất nhiều loài được nêu trong sách đỏ Việt Nam cần được phục hồi và phát triển.

    Dưới sức ép của sự gia tăng dân số tự nhiên, do di dân từ các tỉnh duyên hải Miền Trung, các tỉnh phía Bắc vào xây dựng các vùng kinh tế, nạn phá rừng để khai thác lâm sản, làm nương rẫy … đã làm cho diện tích rừng càng thu bị thu hẹp. Bên cạnh đó, cùng với hoạt động khai thác săn bắn động vật rừng trái phép… đã làm cho các nguồn tài nguyên trên ngày càng trở nên cạn kiệt.

    1.2.4. Tài nguyên khoáng sản:

    Theo kết quả ngiên cứu và đánh giá ở mức độ sơ bộ cho thấy huyện Krông Bông không giàu về tài nguyên khoáng sản, đáng chú ý chỉ có sét, cao lanh để làm gạch ngói, ngoài ra còn có đá Granit, cát xây dựng.

    - Sét: Mỏ sét với trữ lượng đáng kể (trữ lượng cấp P) phân bố tập trung ở Thị trấn Krông Kmar, Khuê Ngọc Điền, Hòa Tân, Cư Kty… thuộc loại sét cao nhôm (hàm lượng AL2O3 >25%), chỉ số dẻo cao (20 - 22%), chất lượng đạt tiêu chuẩn sản xuất gạch ngói.

    - Cát xây dựng: Nằm rải rác ven sông Krông Bông, Krông Ana, trong đó đáng chú ý có bãi cát tại các xã Ea Trul (Giang Sơn), Cư Kty, Khuê Ngọc Điền, Hòa Tân và thị trấn Krông Kmar, nhưng chất lượng không cao và không đồng đều, trữ lượng cũng không lớn.

    - Đá Granit: phân bố chủ yếu ở thị trấn Krông Kmar, Ea Trul, Yang Reh, Cư Đrăm; trữ lượng không lớn. Qua phân tích các đặc tính kỹ thuật cho thấy, đá ở đây có độ nguyên khối thấp, chỉ có thể làm đá xây dựng.

    1.2.5. Tài nguyên du lịch, nhân văn:

    Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất và con người Đắk Lắk nói chung và Krông Bông nói riêng gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Các dân tộc tuy không hình thành nên những lãnh thổ tộc người riêng biệt nhưng mỗi dân tộc đều tập trung ở một số vùng nhất định. Huyện Krông Bông là địa bàn cư trú của người M’nông và Ê Đê. Các dân tộc di cư đến như: Kinh, Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái, Sán Chỉ, H’Mông,… hình thành nên những cụm dân cư ở rải rác trên khắp địa bàn huyện. Cộng đồng các dân tộc với những truyền thống riêng dã hình thành nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú và có những nét độc đáo, trong đó nổi bật là bản sắc văn hóa truyền thống của người Ê Đê, M’nông.

    Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, các di tích lịch sử tại huyện như Hang đá Đak Tuôr… vẫn được lưu giữ và tồn tại. Bên cạnh đó , những sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán lành mạnh vẫn duy trì, gìn giữ và phát triển như các lễ hội (lễ cúng bến nước, lễ cơm mới, lễ bỏ mả, lễ cầu phúc, lễ vòng đời), các di sản văn hóa (tại huyện cho đến nay vẫn còn khoảng 2.000 cái chiêng, 5-6 nghệ nhân thổi kèn đinh pút, đinh năm, kèn sừng trâu…).

    Trong quá trình phát triển, các dân tộc trong huyện luôn kề vai sát cánh với quân dân cả nước chống giặc ngoại xâm, đồng thời năng động sáng tạo, có ý trí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất, đấu tranh cải tạo tự nhiên, phát triển văn hóa-xã hội. Đây thực sự là thế mạnh để huyện phát triển mạnh trong tương lai.

    1.3. Thực trạng môi trường:

    Hai phần ba diện tích đất đai của huyện thuộc là đất rừng, cùng với khu bảo tồn Cư Yang Sin được nâng cấp thành vườn quốc gia, với những cảnh quan thiên nhiên hoang sơ tươi đẹp và thơ mộng như thác Krông Kmar, hồ Yang Réh sẽ là điều kiện thuận lợi để huyện phát triển các hoạt động du lịch cảnh quan và du lịch sinh thái.

    Một phần diện tích đất nông nghiệp đang khai thác ở mức độ khá cao, đặc biệt việc sử dụng một khối lượng lớn phân vô cơ và thuốc sát trùng, cộng với các chất thải rắn từ sinh hoạt đang là một trong những nguy cơ làm cho môi trường đất, nước và không khí của huyện ngày càng bị ô nhiễm.

    Tuy nhiên, trên địa bàn huyện có một số vấn đề về môi trường đáng được quan tâm như sau:

    - Vấn đề bức xúc nhất về môi trường sinh thái nhất hiện nay là sự giảm mạnh diện tích rừng sang làm nông nghiệp trong những năm qua, thậm chí trên cả những diện tích đất không thích hợp cho nông nghiệp như độ dốc lớn, tầng dầy đất mỏng.

    - Môi trường khu vực nông thôn: Trong khu vực nông thôn nguồn nước sạch cho sinh hoạt và nước phục vụ sản xuất là rất khan hiếm nhất là vào mùa khô. Rừng đã bị tàn phá dẫn đến khả năng giữ nước và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân không đảm bảo. Qua phân tích chất lượng nước mặt thấy rằng nước bị nhiễm các chỉ tiêu BOD5 và thành phần vi sinh E- Coli. Điều kiện vệ sinh môi trường hàng ngày của nhân dân còn nhiều bất cập, nhà vệ sinh nhiều nơi chưa có hoặc tạm bợ gây ô nhiễm môi trường, gia súc gia cầm nuôi thả rông làm ảnh hưởng đến nguồn nước mặt dùng cho sinh hoạt, các công trình chuồng trại chưa được bố trí hợp lý… nhiều tập tục lạc hậu trong đời sống không hợp vệ sinh vẫn tồn tại.

     - Môi trường đô thị: tại trung tâm huyện và thị trấn, rác thải sinh hoạt được thu gom khá tốt, đạt khoảng 75%, tuy nhiên rác thải chưa được xử lý đảm bảo gây ô nhiễm môi trường.

    - Chất thải y tế tại trung tâm y tế các huyện, y tế xã chưa được xử lý triệt để sẽ là nguồn phát sinh ô nhiễm và dịch bệnh./.

     

     

     



    TIN MỚI HƠN:
    TIN KHÁC:

     

    Obtener Plugin Flash para visualizar este reproductor

    Lịch công tác tuần 19, tháng 5 năm 2017